Phổ điểm 3–5 môn Toán lớp 12: Hệ quả của sự lệch pha trong dạy – học – đánh giá
Sau những điểm 3, điểm 5: Lỗi tại ai ?
Gần đây sau khi sở giáo dục công bố kết quả khảo sát chất lượng lớp 12 toàn thành phố năm học 2025-2026. Theo đó, các môn nền tảng đang là điểm nghẽn lớn, đặc biệt là môn Toán. Điểm môn này tập trung nhiều ở nhóm 3–5 điểm.

Khi nhìn vào bảng điểm khảo sát Toán lớp 12 của Hà Nội với những con số 3, 4, 5 nằm la liệt, tôi nghe thấy quanh mình rất nhiều tiếng thở dài.

Người chê đề năm nay khắt khe, người tặc lưỡi trách học trò dạo này lười biếng, lại có phụ huynh băn khoăn hay do sách giáo khoa mới nặng nề quá. Nhưng là một người ngày ngày đứng lớp, tôi lại thấy xót xa và sợ một điều khác: Tôi sợ rằng người lớn chúng ta chỉ mải mê đi tìm người để đổ lỗi, mà bỏ lỡ mất bề chìm của tảng băng – bản chất thực sự của việc vì sao các em lại vấp ngã nhiều đến thế.
Trò không kém đi, chỉ là “cỗ máy” đang chạy bằng nhiên liệu cũ
Cứ nhìn thẳng vào sự thật đi, học sinh bây giờ thông minh, nhạy bén và tiếp cận thông tin xuất sắc hơn thế hệ chúng ta ngày trước rất nhiều. Các em không hề kém. Nhưng ngặt một nỗi, nếp tư duy của nhiều em lại đang bị trói buộc bởi một cách học đã thuộc về thời vãng: Học vẹt theo dạng, học thuộc lòng quy trình, và cày đi cuốc lại những bài toán y đúc nhau.
Cách học ấy từng là “kim chỉ nam” an toàn khi thi cử chỉ dừng lại ở việc kiểm tra khả năng bắt chước và tái hiện. Nhưng chương trình mới không còn hỏi: “Trò có nhớ không?” nữa, người ta bắt đầu hỏi: “Trò có thực sự hiểu vấn đề không?”. Và chính tại khúc cua nghiệt ngã này, khi sự rập khuôn không còn tác dụng, hàng loạt học sinh đã rơi rụng.

Đề đã được một ban ra đề đưa ra và cân nhắc dựa trên nhiều tiêu chí – để có được một cái nhìn chuẩn xác thì ta cần check lại về chất lượng của khâu ra đề. Cần đánh giá xem đề thi có đảm bảo tính khoa học, phù hợp với năng lực học sinh và bám sát chương trình học hiện hành hay không? Mức độ phân hóa của đề thi đã hợp lý để đánh giá đúng trình độ của học sinh chưa?.
Mặt khác, năm 2025 là năm đầu tiên lứa học sinh theo học Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 hoàn thành bậc THPT. Sự thay đổi về nội dung, cấu trúc chương trình và phương pháp dạy học có thể là một yếu tố cần được cân nhắc.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải cần nhìn nhận lại phương pháp giảng dạy ở các trường đã thực sự phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh hay chưa? Việc truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng có đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới hay không?
Cuối cùng là chúng ta cần phải quan tâm về sự khác biệt về chất lượng giáo viên. Cần có sự đánh giá về sự chênh lệch trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ giáo viên giữa khu vực nội thành và ngoại thành trong việc tiếp cận và triển khai chương trình giáo dục mới. Điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và kết quả học tập của học sinh.
Bởi hiện nay, với xu hướng của GDPT 2018 thì một bài toán nay không còn nằm chỏng chơ với vài con số vô hồn. Nó được khoác lên tấm áo thực tế, đòi hỏi các em phải biết đọc hiểu, chắt lọc dữ kiện và tự mình xâu chuỗi nhiều mảng kiến thức lại. Với những đứa trẻ chỉ quen nếp “nhìn dạng – ốp công thức”, đó là một cú sốc lớn. Các em gục ngã không phải vì người ra đề cố tình đánh đố, mà vì trong suốt những năm tháng qua, các em chưa từng được dạy cách bơi trong những dòng nước lạ.
Phản ứng quen thuộc thường là tìm một nguyên nhân cụ thể: đề khó, học sinh lười, chương trình nặng. Nhưng giáo dục chưa bao giờ vận hành theo những lời giải đơn giản như vậy. Một phổ điểm không đẹp, nếu nhìn đủ sâu, thường là biểu hiện của những vấn đề tích tụ từ lâu – âm thầm, dai dẳng và khó nhận ra.
Sự bình yên giả tạo và căn bệnh “Ảo giác hiểu bài”
Điểm số tồi tệ hôm nay chỉ là giọt nước tràn ly của cả một quá trình trước đó. Hãy thử nhìn vào lớp học của chúng ta, nơi kịch bản quen thuộc vẫn đâu đó được xuất hiện, được ngày ngày lặp lại: Thầy giảng trò chép, thầy làm mẫu trò bắt chước, thầy chữa bài trò ghi nhớ. Cách học này từng giúp học sinh đạt kết quả tốt trong một hệ thống thi cử thiên về tái hiện. Nhưng khi cách đánh giá thay đổi, nó bắt đầu bộc lộ giới hạn.
Vòng lặp ấy tạo ra một vỏ bọc êm ái: Trò làm được bài trên lớp, giáo viên kịp tiến độ giáo án, phụ huynh nhìn vào thấy yên tâm. Nhưng đó là một sự yên tâm mỏng manh như lâu đài cát. Chỉ cần người ra đề lật nhẹ một góc vấn đề, thay đổi một chút dữ kiện, lâu đài ấy sụp đổ tức thì.
Từ đó sinh ra căn bệnh trầm kha nhất của học trò hiện nay: Ảo giác hiểu bài. Các em đọc lời giải thấy xuôi tai, làm lại bài cũ thấy trơn tru, và đinh ninh rằng mình đã giỏi. Để rồi khi đối diện với một bài toán mới toanh, các em hoang mang không biết bắt phải đầu từ đâu, không phân tích nổi đề bài. Đó hoàn toàn không phải là do các em lười biếng. Đó là bi kịch của việc hiểu sai về bản chất của sự học và với những học sinh quen học theo dạng, sự thay đổi này tạo ra cảm giác “khó”. Nhưng thực chất, đó là khoảng cách giữa cách học cũ và yêu cầu mới.
Tiếng thở dài của những người thầy
Nói đi cũng phải nói lại, chúng ta không thể đổ hết gánh nặng lên vai bọn trẻ. Bản thân những giáo viên chúng tôi cũng đang đứng giữa muôn trùng vây. Đổi mới, phát triển năng lực thì ai cũng khát khao, nhưng nhìn xuống lớp, nền tảng của nhiều em vẫn còn quá mỏng. Dạy đào sâu để rèn tư duy thì cháy giáo án; mà lướt đi cho kịp chương trình thì trò chới với. Rốt cuộc, trong sự giằng co ấy, không ít giờ học đành kết thúc bằng những sự “thỏa hiệp” ngậm ngùi: Dạy không đủ sâu để trò hiểu tận gốc, cũng chẳng đủ kỹ để trò thạo nghề.
Một hệ thống giáo dục đang bước những bước ngoặt: Chương trình mới, cách thi đánh giá năng lực mới. Nhưng nếu cách dạy và cách học vẫn mang nặng tư duy lối mòn, thì việc ba bánh răng ấy lệch pha nhau, tạo ra những điểm 3, điểm 5 là một sự tất yếu chứ chẳng có gì bất thường cả.
Một số thầy cô có quan điểm:
Ví dụ: Các ông bộ với sở phải hiểu rằng điểm toán thấp chủ yếu 3-5 điểm là do đề thi chứ không phải do gv hay hs
Ví dụ: Đề theo trương trình cũ trường tôi trung bình cả trường 7 điểm, đề bây giờ trung bình 5 điểm
Đừng sợ điểm thấp, hãy sợ sự giậm chân tại chỗ
Điểm 3 hay 5 không phải là ngày tận thế, nó đơn thuần là một tiếng chuông báo động đỏ. Điều đáng sợ nhất không nằm ở con số trên giấy, mà là nếu sau tiếng chuông này: Thầy vẫn dạy như cũ, trò vẫn cắm đầu học như xưa, nhưng tất cả lại ngồi đó mơ mộng về một kết quả rực rỡ ở cuối con đường. Bởi ta cần phải khẳng định lại 1 lần nữa là điểm số thấp không phải bắt đầu từ phòng thi. Nó bắt đầu từ những giờ học trước đó.
Khi việc dạy học chủ yếu dừng ở việc truyền đạt và tái hiện, học sinh dễ rơi vào trạng thái “hiểu theo cảm giác”: thấy quen, làm được bài mẫu, và tin rằng mình đã nắm chắc. Nhưng khi gặp tình huống mới, sự hiểu biết ấy không đủ để vận dụng. Đó là một dạng “ảo giác hiểu bài” – âm thầm nhưng rất phổ biến.
Trong khi đó, để hình thành năng lực thực sự, học sinh cần được:
- đặt câu hỏi nhiều hơn
- thử sai và sửa sai
- tiếp cận vấn đề theo nhiều cách
Những điều này đòi hỏi thời gian, sự kiên nhẫn và một cách tổ chức dạy học khác đi. Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào chúng ta cũng làm được.

Giáo dục không thể thay đổi bằng những khẩu hiệu hô hào. Nó chỉ thực sự chuyển mình khi không khí trong từng lớp học thay đổi. Muốn điểm số đi lên, không phải là nhồi nhét học sinh đi “luyện thi” nhiều hơn, mà là phải dạy các em học đúng cách hơn. Muốn trò hiểu bản chất, phải cho trò được quyền hỏi, quyền được quăng quật vào tình huống khó, được sai lầm và tự tay sửa chữa sai lầm.
Một lần nữa ta cũng cần phải có sự nhìn nhận thẳng thắn là bản thân giáo viên cũng đang ở thế khó. Chúng ta không thể nhìn câu chuyện này chỉ từ phía học sinh hay bất kì 1 lý do nào đó mà phải nhận thấy là các thành phần của hệ thống giáo dục hiện nay chưa hoàn toàn “ăn khớp” với nhau. Định hướng chương trình nhấn mạnh phát triển năng lực. Cách đánh giá đang dần tiếp cận mục tiêu đó, nhưng cách dạy và cách học, ở nhiều nơi, vẫn mang nặng dấu ấn cũ. Khi những yếu tố này không đồng bộ, kết quả lệch pha là điều khó tránh và hhiều giáo viên đang phải đi trên một ranh giới rất hẹp: vừa đảm bảo tiến độ chương trình, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, trong khi nền tảng học sinh không đồng đều.
Nếu đi nhanh, nhiều em không theo kịp và nếu đi chậm, không kịp chương trình. Trong áp lực đó, không ít giờ học trở thành sự thỏa hiệp: đủ để học sinh làm được một số dạng bài, nhưng chưa đủ để các em hiểu sâu và vận dụng linh hoạt.
Kỳ khảo sát vừa qua, xót thì có xót, nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất, đó lại là một cơ hội vàng. Cơ hội để những người lớn chúng ta phải chậm lại và tự vấn: Rốt cuộc, chúng ta chỉ đang nhồi nhét chữ nghĩa cho các em, hay đang thực sự dạy các em cách tư duy để bước vào đời?

